Tiến lên một nước công nghiệp hay nông nghiệp ?

- Quan điểm của nước ta về công nghiệp hóa là phải sản xuất thật nhiều sản phẩm công nghiệp, phát triển đô thị thật nhiều, thật nhanh, cũng như tỷ trọng công nghiệp phải lớn. Điều đó dẫn đến hệ lụy là đến các tỉnh, chúng ta luôn được nghe những câu đại loại như “thu hút được bao dự án nước ngoài, tỷ trọng công nghiệp trong thu ngân sách là bao nhiêu…”. Ít có ai quan tâm tới lợi thế so sánh của địa phương của mình. Chính vì vậy, người ta đã lấy đi đất màu mỡ ở vùng Đông Nam Bộ, hay Tây Nguyên, để làm khu công nghiệp, kể cả công nghiệp khai khoáng. Nhiều nơi làm không thành công thì chuyển sang làm sân gôn. Như ở Hòa Bình, có những ngọn núi rất đẹp, người ta cho nổ mìn, nghiền đá để bán, lấy đất làm khu công nghiệp. Còn Vịnh Hạ Long là vịnh đẹp hàng đầu thế giới mà người ta nỡ san đá xuống vịnh làm khu công nghiệp… Tất cả những ví dụ đó là minh chứng rõ ràng của cái tư duy “không biết sở trường của mình là gì”.

Thế giới ngày nay đang cạn dần nhiên liệu hóa thạch và tài nguyên tự nhiên. Với sự gia tăng của biến đổi khí hậu toàn cầu thì nông sản sẽ là một hàng hóa khan hiếm. Tức là về dài hạn, thế giới sẽ bước sang một điểm rẽ, nơi nông nghiệp được đánh giá là một ngành hàng có giá trị cao. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận và đối xử với nông nghiệp một cách khác hẳn.

- Vấn đề lại là so sánh lợi thế từng nước. Chẳng hạn, Nhật Bản họ không dại gì đi vào nông nghiệp. Nhưng ở ViệtNamcó lợi thế so sánh về nông nghiệp, thì đây không chỉ là cơ hội mà là lối đi duy nhất để bước vào hàng ngũ một nước công nghiệp mới. Bây giờ chúng ta không thể nào nói về một ngành công nghiệp ô tô như Nhật Bản, hay một ngành công nghiệp điện tử như Hàn Quốc, hoặc thậm chí một công xưởng của thế giới như Trung Quốc. Bởi chúng ta làm gì cũng ở mức lắp ráp, và còn lắp ráp ở mức thấp nhất nữa. Trong khi đó, làm nông sản thì khác hẳn. Chúng ta có nguồn nguyên liệu, lại sát những thị trường lớn như Ấn Độ và Trung Quốc. Ngoài nông sản, hàng loạt các ngành công nghiệp đi cùng có thể phát triển. Đó là chưa nói tới chuyện Việt Nam cũng là thị trường lớn với gần 100 triệu dân, và chỉ riêng việc cung ứng đủ thị trường nội địa đã là một miếng bánh lớn với giá trị gia tăng rất cao.

- Hơn thế nữa, như Michael Porter đã nhận xét, lợi thế so sánh duy nhất của ViệtNamlà nông nghiệp. Muốn nền kinh tế thị trường phát triển, trước hết anh phải dựa vào lợi thế so sánh của mình đã. Như vậy, nông nghiệp ít nhất phải được sánh ngang hàng với các khu vực kinh tế khác.

TS Đặng Kim Sơn, Viện Chính sách Phát triển Nông nghiệp & Nông thôn trả lời phỏng vấn Tuanvietnam

Chúng ta không cần trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 (không biết có kịp không?) mà chỉ cần trở thành một nước nông nghiệp phát triển?

Faulkner: Bi kịch của nhà văn

“Bi kịch ngày nay của chúng ta là nỗi sợ hãi về thể xác bao trùm, đeo đẳng lâu đến mức giờ đây chúng ta đã quen với việc chịu đựng nó. Không còn vấn đề của tinh thần nữa. Chỉ còn một câu hỏi: Khi nào tôi sẽ bị nổ tung? Vì lẽ đó, người cầm bút trẻ tuổi hôm nay đã lãng quên những vấn đề xung đột nội tại của tâm hồn con người. Chỉ riêng đề tài đó làm nên tác phẩm hay, bởi đó là điều duy nhất xứng đáng để viết”.

Diễn từ của nhà văn William Faulkner tại tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel

Nguồn: Văn nghệ Công an 21/5/2012

Rừng Phong Nha xưa và nay

Dưới đây là các đoạn trích của báo Tuổi trẻ ngày 17/5/2012 về vụ chặt sưa ở Phong Nha:

“nhóm này khoảng 20 người là dân ở thôn 4, xã Phúc Trạch (huyện Bố Trạch, Quảng Bình). Khi cả nhóm chuẩn bị vận chuyển gỗ ra khỏi rừng thì có bốn người cầm súng chạy đến tự xưng là chủ lô hàng”… “nhóm người xăm gỗ lập tức điện báo cho một băng nhóm ở TP Đồng Hới kéo lên tăng cường để cùng phối hợp cướp gỗ sưa. Ngay trong đêm 15-5, hơn 50 người có vũ khí đã băng rừng đi vào đỉnh Nước Vàng”… “Tin phát hiện các hầm gỗ sưa đã kéo hàng trăm người tiếp tục đổ vào rừng. Tại khu vực Chày (xã Phúc Trạch), sáng sớm 16-5 có hàng chục người gùi lương thực đi vô rừng. Đến đầu giờ chiều cùng ngày, hàng chục người từ trong rừng đổ ra tay không.”… “hiện điểm nóng gỗ sưa không phải là rừng hung Trí nữa mà chuyển đến đỉnh Nước Vàng. Tại đây, hai hôm nay có hơn 500 người đổ vào tìm và cướp gỗ sưa. Trong số đó có cả đầu nậu, lái buôn mang theo tiền để sẵn sàng ngã giá khi có người tìm thấy gỗ. Cách đỉnh Nước Vàng một đoạn khoảng ba cây số, tức thuộc đỉnh Mác, người đi rừng cho biết có 2-3 toán cướp phục kích sẵn ở các lán hai bên đường, sẵn sàng ra tay cướp hàng khi phát hiện người gùi gỗ sưa đi ra.”… “Chiều tối 15-5, kiểm lâm vườn quốc gia đã phát hiện một nhóm 11 người tại khu vực rừng Trộ Mợng (gần động Thiên Đường) dưới hình thức là khách du lịch, kiểm lâm đã tạm giữ bốn người”…

Ngày xưa: rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Ngày nay: rừng che lâm tặc, rừng vây quân mình

 

Ông Nguyễn Trần Bạt trả lời phỏng vấn về gói cứu trợ 29.000 tỷ

Xung quanh gói giải pháp 29.000 tỷ đồng để giải cứu các doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt cho rằng việc không nên “thổi” câu chuyện 29.000 tỷ đồng này như một cứu cánh. Việc ông quan tâm hàng đầu là khâu phân phối sự cứu trợ này ra sao. Theo ông, gói cứu trợ là cần thiết, nó có thể có ích nếu như nó được thực hiện một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học.

Không có cơ sở khoa học cho con số 29.000 tỷ

PV: – Với hy vọng có thể thúc đẩy sản xuất kinh doanh, kích thích tăng trưởng của nền kinh tế đang gặp khó khăn, vừa qua Bộ Tài chính đã trình Chính phủ gói giải pháp 29.000 tỷ để giải cứu các doanh nghiệp. Là một chuyên gia kinh tế, ông nhận định như thế nào về gói giải pháp này của Chính phủ?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Tất cả các gói cứu trợ trong một chừng mực nào đó đều có ích cả. Nhưng sự có ích về mặt lý thuyết thôi, còn trên thực tế nó phải đi qua một khâu rất quan trọng đó là khâu phân phối sự cứu trợ này.

Chúng ta đã biết ở ViệtNamchúng ta có hàng bao nhiêu các gói cứu trợ như thế này. Từ cứu trợ tai họa thiên nhiên, có tính chất xã hội, có tính chất từ thiện cho đến những gói cứu trợ mà chúng ta đã từng gọi vào những năm 2008 – 2009 đó là kích cầu. Và bây giờ chúng ta có thêm gói cứu trợ nữa. Trước hết, chúng ta phải bàn xem gói cứu trợ này nhắm đến đối tượng nào. Nếu như dành cho các đại công ty thì nó như voi nuốt thuốc gió thôi. Nguyên số nợ của một tập đoàn đã lên tới 15 – 17.000 tỷ thì 29.000 tỷ không thấm tháp gì đối với hàng trăm ngàn doanh nghiệp. Vậy thì chúng ta đã có những phân tích, phân loại và đưa ra thiết kế quy trình phân phối sự cứu trợ này chưa?

Trên thực tế chúng ta phải thấy rằng nền kinh tế ViệtNamđã hình thành một khái niệm đó là các khu vực, các vùng kinh tế hay các nền kinh tế vùng.

Lâu nay chúng ta cũng đánh giá mức độ cạnh tranh của các tỉnh. Và do đó, chúng ta vô tình đã tạo ra sự thi đua giữa các vùng kinh tế hay nói cách khác chúng ta đã tạo ra tiền đề tâm lý, xã hội cũng như nhận thức các nền kinh tế vùng.

Vậy chúng ta cứu trợ theo vùng kinh tế hay là cách khác? Ví dụ chúng ta có các hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hiệp hội làng nghề… Chưa kể các hiệp hội doanh nghiệp trong lĩnh vực nghề nghiệp như hiệp hội thủy sản. Vậy thì chúng ta phân phối gói cứu trợ này theo vùng lãnh thổ như tôi nói hay theo các hiệp hội doanh nghiệp? Đó là điều mà Chính phủ có lẽ cần phải bàn rất kỹ.

Nếu chúng ta chỉ nói chung chung, ném ra một gói cứu trợ và thường đi qua các ngân hàng thì tôi thấy cần phải cẩn thận. Bởi các ngân hàng bây giờ đang có điều tiếng trong dư luận xã hội, ví dụ như mức tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng lên đến 50 – 60%, còn doanh nghiệp thì chết như ngả rạ, tức là thóc còn ở trong bồ mà người thì chết đói ở ngoài cửa.

Tiền là công cụ để khích lệ sản xuất nhưng tổ chức kinh doanh tiền tệ thì rất có lãi, trong khi tổ chức sử dụng tiền tệ để tạo thành công cụ phát triển thì chết  hàng loạt.

Việc nghiên cứu tất cả những thực trạng xã hội như vậy để chúng ta đặt ra vấn đề là phân phối gói cứu trợ này như thế nào? Theo hình thức các vùng kinh tế hay theo hình thức dựa vào các hiệp hội doanh nghiệp? Nói gì thì nói, dù sớm hay muộn nhưng nghĩ đến xã hội cũng là được rồi. Tuy nhiên, tôi chưa thấy rõ cơ sở khoa học của gói cứu trợ này. Vậy một gói cứu trợ bao nhiêu? Cho ai? Phân phối như thế nào? Ai giám sát quá trình phân phối sự cứu trợ này? Các hiệp hội hay các chính quyền địa phương? Hay chúng ta thả tiền vào trong các ngân hàng để cho các ngân hàng phân phối theo sự đánh giá chất lượng doanh nghiệp của các ngân hàng?

Gói cứu trợ nó là cần thiết, nó có thể có ích nếu như nó được thực hiện một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học.

PV: – Theo ông, gói cứu trợ 29.000 tỷ đồng cùng với chủ trương giãn thuế, giảm thuế mà cụ thể là giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT từ quý 2 được giãn thêm 6 tháng liệu có thực sự vực dậy được các doanh nghiệp này không, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Chúng ta nên nhớ một điều chúng ta chỉ có 29.000 tỷ. Tức là chúng ta có khoảng 1,4 tỷ đô la cho một nền kinh tế vào khoảng 130 tỷ đô la. Như vậy, nó chỉ có 1% thôi. Chúng ta đừng đặt quá nhiều kỳ vọng và đấy.

Tôi xem báo chí rồi phương tiện truyền thông, truyền hình và rất nhiều người nói và thổi câu chuyện 29.000 tỷ đồng này như một câu chuyện để cứu cánh. Tôi cho nhận thức như vậy trước hết là sai. Bởi nó không có cơ sở khoa học về mặt định lượng. 1% không cứu được bất kỳ cái gì. Nó là tiền cafe, tiền trà nước của một nền kinh tế, nó không phải là cứu cánh của một nền kinh tế. Chúng ta cứ tưởng rằng nếu chúng ta dồn vào một chỗ thì nó trở thành lớn của một vùng, một xí nghiệp. Nhưng không phải vậy, tiền nó khuếch tán rất nhanh. Cho nên trong một lượng tiền đo theo tiền bạc của một nền kinh tế như vậy thì 1,4 tỷ đô la có một hiệu ứng xã hội về mặt hiệu ứng kinh tế khá thấp.

Nó có thể có một hiệu ứng chính trị, nó như một tiếng vang vọng cho nhân dân thấy rằng Đảng và Chính phủ không bỏ quên doanh nghiệp. Cho nên khi sử dụng chúng ta phải làm thế nào để khuếch trương cả giá trị thực về mặt tiền bạc lẫn giá trị chính trị khác để cho nó có một hiệu quả tốt hơn.

Nếu như sử dụng cái đó không rành mạch, để cho một vài hiện tượng tiêu cực nho nhỏ ở trong đấy thì mọi hiệu quả kể cả kinh tế lẫn chính trị đều biến mất, thậm chí còn có hại.

Báo chí làm thế nào để xã hội không đặt quá nhiều kỳ vọng vào khoảng 1% GDP của một quốc gia. Như thế có nghĩa là Chính phủ chúng ta nghèo, muốn cứu trợ cả một cộng đồng doanh nghiệp như vậy mà chỉ có 29.000 tỷ.

Do đó, chúng ta phải sử dụng nó một cách nghiêm túc để hy vọng rằng ngoài những lợi ích kinh tế cụ thể, trong một giới hạn vừa phải nó được kết hợp với những giá trị chính trị xã hội khác như là một nguồn động viên của Nhà nước đối với các lực lượng kinh doanh.

PV: – Vậy việc giãn thuế, giảm thuế đó có thực sự là biện pháp cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Bây giờ phải nói như thế này: những doanh nghiệp nào còn đóng thuế thì sự miễn thuế mới có giá trị, còn với những doanh nghiệp không còn năng lực để đóng thuế (tức là trên thực tế nó không kinh doanh) thì miễn thuế hay giảm thuế không có giá trị gì, vì đằng nào họ cũng không đóng. Còn những doanh nghiệp vẫn còn đóng thuế thì phải đánh giá xem tại sao nó đóng được thuế trong điều kiện kinh tế như thế này.

Để đánh giá được năng lực đóng thuế của một doanh nghiệp là một vấn đề kỹ thuật tác nghiệp hoàn toàn không dễ dàng gì đối với cơ quan quản lý thuế. Ví dụ những đại công ty nợ tới gần 200 tỷ tiền thuế, cái đó được xếp vào diện giãn thuế hay giảm thuế?

Đánh giá các doanh nghiệp để ứng dụng chính sách này như là một sự cứu trợ là việc rất khó. Nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành trong lĩnh vực này hoàn toàn không dễ dàng. Nó cũng tiềm ẩn những rủi ro móc ngoặc, tham nhũng hoàn toàn không bé một chút nào.

Vì thế phải rất thận trọng, không thì thiện chí lại trở thành đối tượng để các dư luận truyền thông chế giễu.

Tôi nghĩ rằng giãn thuế mà chỉ khóa trong lĩnh vực giá trị gia tăng thì cũng tạm được. Bởi thuế giá trị gia tăng là thu của khách hàng trước. Giãn thuế giá trị gia tăng tức là hỗ trợ các doanh nghiệp chiếm dụng thêm một thời gian 6 tháng nguồn thuế đã được thu trong các kinh doanh của mình. Nhưng liệu việc này có gieo ra một thói quen không tích cực không? Nếu làm một cách đại trà thì có phải là 12.000 nghìn tỷ như quy định của gói cứu trợ không, hay nó sẽ tự động phát triển đối tượng này rộng hơn? Bởi coi số 12.000 tỷ trong vòng 6 tháng là con số hoàn toàn quan liêu. Nó không phải là con số thực.

Liệu thực tế không thu được thật hay thực tế trì hoãn thật ấy có phải là 12.000 nghìn tỷ không, nếu các lực lượng tham gia vào đây cứ thế phát triển một cách âm ỉ mà chính phủ không kiểm soát nổi?

Thứ hai, việc cho phép chiếm dụng vốn một thời gian liệu có huấn luyện một thói quen chiếm dụng vốn lâu dài không? Đôi khi để quảng bá tính nhân bản của một chính sách mà chúng ta lại huấn luyện xã hội một thói xấu thì sao? Tôi nghĩ rằng mọi việc cần phải suy nghĩ kỹ hơn, và có lẽ các cơ quan chức năng của Chính phủ cần phải phân tích việc này một cách chuyên nghiệp hơn.

Tiền không đến được các xí nghiệp một cách chắc chắn, các ngân hàng sẽ ngộ độc tiền

PV: – Xem ra gói cứu trợ này chỉ có giá trị trước mắt, còn về lâu dài cũng không có giá trị gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Một nền kinh tế mà Chính phủ luôn luôn phải cứu trợ là nền kinh tế vứt đi. Một nền kinh tế là lực lượng cơ bản để cứu trợ Chính phủ chứ không phải Chính phủ phải cứu trợ nó, bởi toàn bộ ngân sách được thu từ sự phát triển hay từ thực tế kinh doanh của nền kinh tế. Bây giờ nếu chúng ta quảng bá vai trò của gói cứu trợ quá mức thì đồng thời chúng ta cũng quảng bá sự nguy hiểm của nền kinh tế.

Hiện nay, tôi thấy báo chí đang làm ầm ĩ câu chuyện 29.000 tỷ này mà quên mất rằng trong khi biểu dương Chính phủ để có 29.000 tỷ cứu trợ thì chúng ta cũng làm một việc song song là bố cáo với thiên hạ rằng nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế kém đến mức đang được Chính phủ cứu trợ.

Tôi không hiểu biểu dương tính nhân bản, tính lương thiện, tính nhân dân của Chính phủ quan trọng hơn hay biểu dương sự lành mạnh, sức khỏe của một nền kinh tế quan trọng hơn? Ngay cả cơ quan tuyên huấn hay các phương tiện truyền thông cũng phải lưu ý cân đối liều lượng như thế nào để người ta vỗ tay cho gói cứu trợ, nhưng không tố cáo tính chất tiêu cực của một nền kinh tế.

PV: – Vậy thì, theo ông đâu là biện pháp lâu dài thực sự cần cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn này?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Tôi nghĩ thực ra là chính sách. Hiện nay song song với gói cứu trợ 29 nghìn tỷ này có một quyết định của Ngân hàng Nhà nước về việc giới hạn trần lãi suất cho vay là 15% cũng đang được truyền bá rất ầm ĩ. Việc hạ lãi suất cho vay trên thực tế khoảng 20 – 30% xuống 15% là một cố gắng khổng lồ của cả Chính phủ lẫn Ngân hàng Nhà nước.

Nhưng truyền bá, bố cáo, tuyên truyền quá rộng rãi về chuyện này đã làm tố giác một thực tế là ở Việt Nam đồng tiền cho vay đã được Nhà nước kiểm soát rồi mà nó vẫn còn 15%/ năm. Và lãi suất của đồng ViệtNam, mặc dù được được kiểm soát và được hạn chế  vẫn là lãi suất cao nhất trong tất cả các đồng tiền có mặt trong nền kinh tế thế giới.

Chúng ta buộc phải buôn bán với nhân loại, cho nên thương nhân Việt Nam trong khi phải gánh tiền lãi tới 15% thì không khỏe khoắn, bình đẳng so với bất kỳ thương nhân nước nào trên thế giới này. Tất nhiên nói như thế không phải là đưa ra con số 15% là không tích cực. Đấy là cả một sự tích cực, sự cố gắng từ phía Chính phủ, từ phía Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đấy là một nỗi đau khổ, một sự cố gắng cần giấu kín hơn là cần tuyên truyền.

Hiện nay, chúng ta tuyên truyền quá to, quá rộng rãi về chuyện này, nó tố cáo với các nền kinh tế khác trên thế giới rằng gánh nặng lãi suất của đồng tiền ViệtNamlàm cho lưng của các thương nhân ViệtNamgù đi.

PV: – Ông có cho rằng Chính phủ cần có biện pháp giải quyết nợ xấu của doanh nghiệp và hoàn thế lại cho các doanh nghiệp như một vài ý kiến đã nêu?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Nhiều người phát biểu là cần giải quyết vấn đề nợ xấu để cứu trợ các doanh nghiệp, đấy là một tham vọng rất thiếu thực tế. Trong một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì tốc độ quay của tiền quy định tài năng quản trị của các doanh nghiệp.

Một doanh nghiệp mà không trả được nợ thì cái đối tượng cho nó vay là ngân hàng sẽ trở thành một đối tượng tiêu cực. Nợ xấu là tai họa của các ngân hàng.

Thế nhưng tại sao lại có nợ xấu? Bởi vì chúng ta kinh doanh không được. Nền kinh tế của chúng ta là một nền kinh tế hoàn toàn lệ thuộc vào xuất nhập khẩu. Chúng ta không có công nghiệp nguyên liệu cho nên chúng ta phải nhập.

Chúng ta không có công nghiệp linh kiện, phụ kiện nên chúng ta cũng phải nhập. Và nếu không cẩn thận đến cái kim chúng ta cũng phải nhập. Do đó chúng ta lệ thuộc vào cả xuất lẫn nhập.

Do sự trì trệ của nền kinh tế thế giới nên giá hàng nhập đắt lên. Bởi vì không có lời người ta không làm, không làm thì khan hiếm, cho nên hàng nhập vào đắt, hàng bán ra thì không bán được vì người ta không mua. Hầu hết các thị trường xuất khẩu của chúng ta đều có vấn đề về kinh tế cả.

Tôi tiên lượng là phải đến giữa năm 2014 nền kinh tế thế giới mới bắt đầu có những dấu hiệu tích cực. Từ giờ cho đến lúc ấy nền kinh tế của chúng ta vẫn tiếp tục có vấn đề. Nền kinh tế của chúng ta có vấn đề thì không những chúng ta không giải quyết được nợ xấu hiện có mà sẽ tiếp tục có thêm nợ xấu.

Nợ xấu sẽ phát triển. Lý do rất đơn giản là chẳng lẽ chúng ta giải tán hết các xí nghiệp, đóng cửa hết các công ty? Chúng ta vẫn phải tiếp tục sản xuất kinh doanh trong những điều kiện không bán được hàng. Hệ số tồn kho bây giờ càng ngày càng tăng, mà tồn kho lớn nhất là bất động sản. Không muốn chết thì chúng ta phải làm, lỗ cũng phải làm, mà lỗ nhiều thì nợ xấu tăng thêm.

Tôi nghe nói có một số chuyên gia phát biểu là Chính phủ phải bỏ tiền ra mua nợ xấu, và phải giải quyết vấn đề nợ xấu. Cách nói như thế hoàn toàn không phù hợp với điều kiện ViệtNam. Không có cách gì Chính phủ chúng ta có thể giải quyết vấn đề nợ xấu cả.

Nếu Chính phủ ngăn chặn được nợ xấu phát triển trong một vài năm sắp tới đã là giỏi lắm rồi. Đưa ra những lời kêu gọi hay sự đánh giá không khoa học là dồn Chính phủ vào chỗ khó, bởi Chính phủ không có cách nào để giải quyết vấn đề nợ xấu trong một vài năm tới. Đấy là quan niệm của tôi.

Tiền mà không đến được các xí nghiệp một cách chắc chắn thì các ngân hàng sẽ ngộ độc tiền. Chúng ta buộc phải đánh giá thực tế như thế, và nhiệm vụ của Chính phủ không phải là khắc phục triệt để các hiện tượng tiêu cực mà là hạn chế sự phát triển của các tiêu cực.

Trong một vài năm tới, tài ba nhất thì Chính phủ cũng chỉ có thể hạn chế sự phát triển các mặt tiêu cực chứ không phải là quét sạch các mặt tiêu cực.

PV: – Vậy còn việc hoàn lại thuế cho các doanh nghiệp thì sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Tôi nghĩ là Chính phủ tài đến đâu thì làm đến đấy, có dự trữ đến đâu thì làm đến đấy, nhưng tôi nghĩ là chuyện này phải rất cẩn thận. Hoàn thuế là xuất kho tiền, mà xuất kho tiền là gắn liền với các thao túng, mà thao túng thì luôn dẫn đến mất uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước. Việc ấy phải thận trọng, không phải khía cạnh tiền mà khía cạnh chính trị.

PV: – Theo ông, những đối tượng doanh nghiệp nào thì cần phải cứu trợ trong gói cứu trợ này?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Tôi sẽ không phát biểu về chuyện này, lý do rất đơn giản là nói gì thì nói, Chính phủ là người phải bảo vệ quyền lợi xã hội và tài sản xã hội trong tất cả các hoạt động quản lý của mình. Cho nên cứu cái gì để có lợi cho xã hội nhất là quyền định nghĩa của Chính phủ.

Chính phủ đưa tiền thì Chính phủ phải xem giỏ bỏ thóc, đấy là quyền của Chính phủ, chúng ta không được can thiệp. Không phải là anh buộc phải cứu tôi vì anh không cứu tôi thì tôi chết, không có chuyện đấy.

Chính phủ bỏ tiền ra để mua một tương lai tốt cho nền kinh tế Việt Namchứ không phải mua tương lai cho một xí nghiệp cụ thể nào cả. Tất cả những ai chê trách Chính phủ là tôi
chết mà anh không cứu là vô lý. Chính phủ cứu một nền kinh tế chứ không cứu một xí nghiệp, nhưng để cứu một nền kinh tế thì Chính phủ buộc phải đi qua con đường cứu một số xí nghiệp. Vậy chọn xí nghiệp nào là toàn quyền quyết định của Chính phủ, dựa vào sự tham khảo hai trục mà tôi vừa nói, là quản trị theo hiệp hội theo vùng địa phương, hay là quản trị theo các hiệp hội doanh nghiệp là tùy Chính phủ. Nhưng cái đấy cũng chỉ là đối tượng tham khảo để cho chính sách gần với cuộc sống, còn cứu trợ ai vẫn là quyền quyết định của Chính phủ.

Tuy nhiên, điều cần nói ở đây là Chính phủ không được quên cứu trợ không phải là thiện chí chính trị, mà là một công nghệ và phải giám sát quá trình cứu trợ. Không nên để xảy ra tình trạng chúng ta đến ngõ nào, phố nào cũng thấy ca ngợi Chính phủ tốt bụng cho mình tiền. Tôi đã bắt đầu thấy ở trên ti vi có một số công ty đã ca ngợi rồi. Tôi xin lỗi là những con kền kền ấy mà đã bắt đầu mở miệng thì Chính phủ phải coi chừng sờ nắp túi mình xem nó đã bật ra chưa? Chúng ta không được quên cứu trợ là một công nghệ tài chính có tiêu chuẩn phổ biến toàn cầu, hoàn toàn không phải là hoạt động từ thiện. Cứu trợ không phải là hoạt động chính trị. Nó có ý nghĩa chính trị chứ không phải là hoạt động chính trị, mà là hoạt động thuần túy tài chính.

Cứu trợ không phải là thiện chí chính trị, mà là một công nghệ và phải giám sát

PV: – Thưa ông, ông có nghĩ rằng số tiền 29.000 tỉ đồng này sẽ cứu được những doanh nghiệp mấp mé bên bờ vực phá sản không?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Tôi nghĩ rằng các doanh nghiệp mấp mé bên bờ vực phá sản không phải do thiếu tiền, mà nó mất tiền, bởi vì nếu thiếu tiền thì đã không kinh doanh.

Vấn đề phải đặt ra là liệu có mất nữa không? Cho nên xưa nay cứu trợ luôn luôn gắn liền với tái cấu trúc các doanh nghiệp cụ thể. Người ta cứu trợ luôn kèm điều kiện.

Giống như cộng đồng châu Âu cứu trợ Hy Lạp là kèm theo điều kiện phải thắt chặt chi tiêu. Tức là Chính phủ ấy mất đi quyền độc lập quốc gia của mình trong lĩnh vực tài chính, trong lĩnh vực chi tiêu công.

Tôi sợ rằng việc vung vãi tiền bạc như một biểu hiện của sự nhân văn, thương người, cứu trợ mà không tuân thủ các công nghệ tài chính liên quan đến hoạt động cứu trợ, có thể dẫn Chính phủ chúng ta đến chỗ mất tiền và mất cả uy tín nữa, vì chúng ta không hiểu được bản chất của khái niệm cứu trợ.

PV: – Thưa ông, ông có quan ngại rằng số tiền 29.000 tỷ này nó sẽ đi đến những doanh nghiệp không cần cứu, hoặc đi đến những doanh nghiệp đã chết rồi không cần cứu không?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Trong cuộc sống chúng ta vẫn hay gặp những trường hợp người chết rồi mà người ta vẫn khai còn sống để lĩnh lương.

Ngày xưa trong chính quyền ViệtNamcộng hòa, có liệt sĩ vẫn được lĩnh lương. Ở Mỹ người ta phải tìm những người mất tích ở chiến trường để khóa sự việc lại và để Chính phủ không phải tiếp tục chi tiền cho những người không xác định được là đã chết một cách hợp pháp. Vậy Chính phủ phải xem trong ngần ấy doanh nghiệp thì cái nào là liệt sĩ rồi, cái nào đang ngắc ngoải, và trong đống ngắc ngoải ấy, cái nào thức dậy thì có lợi cho xã hội, còn cái nào ngủ tiếp cũng được,  không sao cả. Chính phủ tuyệt đối không được nghĩ đây là thiện chí của Chính phủ, mà Chính phủ đang bỏ tiền ra để cứu một nền kinh tế.

PV: – Đấy chính là giải pháp mà số tiền 29.000 tỷ đồng này đến được nơi cần cứu?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Tôi nói lại là đến nơi nào thì không biết được, và chúng ta đừng hy vọng chúng ta biết được. Chúng ta chỉ trích bằng những tin đồn là không được. Chính phủ chịu trách nhiệm trọn vẹn và toàn diện việc triển khai gói cứu trợ này để cứu nền kinh tế của chúng ta, các xí nghiệp không được cứu trực tiếp thì sẽ được hưởng cái lợi gián tiếp do nền kinh tế ấy không chết.

Nên nhớ rằng mọi xí nghiệp đều có thể chết theo một nền kinh tế, cho nên thành tích của Chính phủ là cứu một nền kinh tế. Cứu một nền kinh tế tức là ngăn chặn sự chết theo của các công ty khi nền kinh tế ấy chết.

PV: – Thưa ông, sắp tới Quốc hội có xem xét gói 29.000 tỷ này, vậy với cá nhân mình, ông mong chờ gì từ cuộc nghị sự này?

Ông Nguyễn Trần Bạt: – Quốc hội phải làm đúng nghĩa vụ của mình, Quốc hội phải giám sát tất bởi vì đây là tài sản của nhân dân. Một Nhà nước tự bản thân nó không có tài sản. Nhà nước là đại diện để quản lý các sở hữu của nhân dân.

Cho nên, Nhà nước chúng ta mặc dù không phân lập như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói khi khai mạc hội nghị Trung ương V, nhưng các nhánh quyền lực cũng không trốn được trách nhiệm của mình. Nhánh quyền lực của Quốc hội thay mặt nhân dân giám sát tất cả sự lưu chuyển các dòng tài sản của xã hội.

Tôi hoan nghênh Quốc hội nếu Quốc hội giám sát tốt được chuyện ấy. Nên nhớ rằng Quốc hội có thể giám sát và Quốc hội có thể hợp thức hóa, do đó Quốc hội cần cố gắng để không hợp thức hóa những mặt tiêu cực và giám sát để hạn chế các mặt tiêu cực và khích lệ các mặt tích cực. Tôi hoan nghênh chuyện ấy, hoan nghênh phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Vào khoảng 6 tháng nay chúng ta thấy mọi cơ chế kiểm tra, kiểm soát đều tiến công một cách không thương tiếc vào các doanh nghiệp Nhà nước. Sự tố giác những vấn đề tiêu cực diễn ra trong một vài tập đoàn Nhà nước, từ Vinalines, cho đến PVN, cho đến EVN, VNPT thể hiện một thái độ thức tỉnh của hệ thống chính quyền Nhà nước chúng ta đang diễn ra, đã diễn ra ở trong các doanh nghiệp Nhà nước. Chúng ta phải bắt rận chứ không giết các con kinh công ấy được. Bây giờ chúng ta bắt không được rận mà làm cho nó lăn quay ra chết chẳng hạn, thì tai họa còn khủng khiếp hơn. Rất nhiều người không đồng ý với tôi, rất nhiều người muốn giết chết các con vật gây bệnh, nhưng tôi thì không. Tôi thuộc vào nhóm những người muốn chữa bệnh cho các thực thể. Còn việc chúng ta cường điệu vai trò của các tập đoàn kinh tế Nhà nước thì đấy thuộc vấn đề lý luận, hiện nay phải nói rằng sự thức tỉnh về mặt này rất hạn chế. Tuy nhiên, thức tỉnh những vấn đề lý luận đòi hỏi thời gian nhiều hơn, vì nó đòi hỏi một số thực tiễn thất bại để có thể rút ra kết luận được.

Và không chỉ hiểu biết về sự thất bại đâu mà còn phải nghĩ ra các phương pháp để thay thế. Không có các tập đoàn nhà nước thì Đảng này, Nhà nước này thay nó bằng gì, bây giờ chưa tìm được. Với năng lực của xã hội như hiện nay thì các công ty tư nhân có trở thành đại gia được giống như các tập đoàn Nhà nước không? Chưa chắc. Khi sờ đến các đại gia có màu sắc tư nhân là lập tức chúng ta thấy nườm nượp tất cả các tín dụng và tài sản Nhà nước ở trong đấy. Như vậy, nó chỉ gọi là tập đoàn tư nhân, còn thực chất nguồn sống của nó, máu của nó vẫn là chế tạo tại chính phủ CHXHCN Việt Nam, vẫn là tài sản quốc gia.

- Xin cảm ơn ông!

Huyền Biển (Thực hiện)

Nguồn: phunutoday.vn

“Doanh nghiệp nhà nước không thể là công cụ điều tiết vĩ mô”

Đầu tư nhiều với hiệu quả thấp và tình trạng kinh doanh kém hiệu quả, làm cho bất ổn trở nên trầm trọng hơn, làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống tài chính, làm méo mó môi trường kinh doanh, chèn lấn cơ hội các khu vực doanh nghiệp khác, tạo ra chạy đua tìm kiếm đặc quyền đặc lợi, không làm tốt chính sách xã hội, vai trò trụ cột trong cạnh tranh cũng không làm được.…

TS. Vũ Thành Tự Anh cho rằng không nên coi doanh nghiệp nhà nước là công cụ để điều tiết vĩ mô, để bình ổn giá. Từ góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn, điều này là không có cơ sở, nếu sử dụng doanh nghiệp nhà nước như công cụ điều tiết vĩ mô thì giá phải trả là rất đắt…

Cũng đặt vấn đề cần tư duy lại về vai trò của doanh nghiệp nhà nước, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phân tích, rằng kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo nhưng cần làm rõ điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp nhà nước – một bộ phận của kinh tế Nhà nước – cũng là chủ đạo. Bày tỏ sự tán thành với phát biểu của ông Trương Đình Tuyển là doanh nghiệp nhà nước không thể là công cụ để ổn định kinh tế vĩ mô được, bà Lan cho rằng “đáng tiếc là vẫn còn những kỳ vọng như vậy”. “Doanh nghiệp nhà nước có thể gây thêm các vấn đề về vĩ mô hơn là ổn định vĩ mô”, bà Lan đồng tình với các ý kiến phát biểu trước. Cũng theo quan điểm của chuyên gia Phạm Chi Lan thì bao nhiêu năm nay vẫn kêu ca là không có công nghiệp phụ trợ, song không thấy vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở đây. “Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng chỉ vào khu vực có lợi nhất là lúa gạo và tước đi bao nhiêu quyền lợi của nông dân”, bà Lan nói. “Phải cấm tiệt doanh nghiệp nhà nước đầu tư ngoài ngành, đã cấm là cấm tiệt, chứ còn du di tỷ lệ phần trăm thì không thể kiểm soát được”, TS. Vũ Đình Ánh mạnh mẽ nêu quan điểm. (Trích VnEconomy)

Đó là ý kiến của các chuyên gia về doanh nghiệp nhà nước tại diễn đàn về tái cơ cấu nền kinh tế do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức tại Đà Nẵng.

 

Côn trùng bổ dương ca

Bọ cạp chích phát nào ra phát đó.

Bửa củi bửa hoài hổng biết mệt.

Con rết đến chết vẫn cứ bò.

Mối chúa múa tối ngày…

Theo Đất việt

Thế này thì sao mà không ham

Di chúc

Di chúc của Kim Jong-il: phải phát triển vũ khí hạt nhân

Di chúc của Hồ Chí Minh: phải giữ gìn sự đoàn kết

Thực hiện di chúc:

Triều Tiên: phóng vệ tinh và chuẩn bị thử vũ khí hạt nhân

ViệtNam: đang chỉnh đốn Đảng

 

 

Ly hôn kỳ cục án

Vụ ly hôn mà đại biểu Quốc hội Đặng Thị Hoàng Yến là nguyên đơn và bị đơn là Trần Jimmy (quốc tịch Mỹ): vụ án có 02 bản án, bị đơn đang dính một vụ án hình sự, nguyên đơn được tống đạt đến 04 lần, sau khi bị hủy án thì nguyên đơn đã xin rút đơn…, còn đây là một đoạn trong bản án 10 trang.

“Tòa án xác định các quyền xét xử công bằng của cả hai Trần Jimmy và Đặng Thị Hoàng Yến đã được tôn trọng và được thực hiện đúng theo quy trình xét xử. Trần Jimmy và Đặng Thị Hoàng Yến đều đã nhận được cơ hội để được xét xử đầy đủ và công bằng… Việc xét xử và phán quyết này được xét và xử bởi tòa án có thẩm quyền thực thi theo quy tắc luật pháp của nước CHXHCN ViệtNam. Quyền để xét xử cả hai bên đều có được đầy đủ và thích đáng, bởi vì cả hai bên đều có những liên hệ tối thiểu với nước CHXHCN ViệtNam… Tòa án không thấy có dấu hiệu gian lận bên trong hay bên ngoài việc xét xử này… Tòa án cũng thấy là Trần Jimmy đã không hề bị bất kỳ một cản trở nào để được điều trần đối chất công bằng… Tòa án được thành lập một cách hợp pháp và phù hợp”.

Thẩm phán này chắc được đi tu nghiệp ở Mỹ về nên văn phong theo luật Mỹ hoặc là được người Mỹ viết giùm bản án này!

Thái Hương – Bà đầm thép

Trả lời phỏng vấn báo Doanh nhân Sài Gòn, Thái Hương – Chủ tịch TH True Milk, Tổng Giám đốc Ngân hàng Bắc Á khẳng định: “Làm kẻ chiến thắng không khó, giữ được sự cao quý trong thành công mới là hoàn hảo” và cho biết triết lý kinh doanh của mình là: “Siêng năng là của báu vô giá, sự thận trọng là lá bùa hộ mệnh. Hãy yêu sự thật nhưng cũng biết tha thứ lỗi lầm, làm việc là cách tốt nhất để chúng ta yêu cuộc sống; hãy làm tốt cho người, ắt sẽ tốt cho mình, mình phải sống ngày hôm nay mà không ân hận với ngày hôm qua”.

Đầu đề  do Chủ quán đặt

Giấu bụi dưới thảm

Một chuyên gia kinh tế Việt hưng phấn bảo: “Mọi vấn đề về ngân hàng, chứng khoán và bất động sản sẽ được giải quyết xong trước tháng 8 năm nay. Tất cả thị trường tài chính sẽ phục hồi và sẽ lập đỉnh cao mới trong 2013. Lãi suất và lạm phát sẽ giảm xuống dưới 9%, cán cân thương mại sẽ cân bằng và ngân sách sẽ ổn định”. Hallelujah (Lạy Chúa tôi)!!! Phép mầu đã hiện ra?

Giải pháp của Mỹ

Tôi gọi nó là một phép mầu vì hiện tượng này sẽ đi ngược lại tất cả nguyên lý về kinh tế tài chính mà tôi được học. Chắc tại mình học chưa đủ? Nhưng dù sao, nó cũng đã được áp dụng khá thành công tại Mỹ khi Cục Dự trữ Liên bang (Fed) bơm tiền cứu các ngân hàng, bắt đầu với gói QE 1 vào 2008, và liên tục in tiền với QE 2 và sắp cho ra QE 3 trong vài tháng tới. Thường thì khi in tiền, lạm phát và lãi suất sẽ gia tăng vì lượng cung của trái phiếu tràn ngập. Tuy nhiên, với sự suy thoái về nhu cầu tiêu dùng và mức độ thất nghiệp; cùng với số lượng tiền khổng lồ đang được các nhà đầu tư thế giới nắm giữ (nhất là Trung Quốc và Nhật Bản), thị trường chấp nhận dễ dàng lãi suất thấp (gần như zero) từ trái phiếu chính phủ vì sự vững chắc của đồng đô la Mỹ giữa những biến động nguy hiểm của tình thế.

Kết quả là Fed đã cứu được hệ thống ngân hàng mà không phải trả giá bằng lạm phát và lãi suất. Tuy nhiên, kinh tế Mỹ đã tiếp tục trì trệ suốt 3 năm qua vì tiền các ngân hàng nhận được đã không đem cho doanh nghiệp vay lại vì nợ xấu và rủi ro vẫn còn cao. Họ giữ tiền nhận được để mua trái phiếu của các chính phủ cho an toàn và hạnh phúc với số tiền lời khủng qua sai biệt về lãi suất mua và bán.

Cuối cùng, nhờ sự năng động của nền kinh tế thị trường và những sáng tạo của tầng lớp doanh nhân trẻ, nền kinh tế Mỹ cho thấy vài tín hiệu của sự hồi phục vào giữa năm nay. Nhưng ngoài điểm sáng này, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, giá địa ốc vẫn suy giảm, nợ công và tư vẫn đầm đìa và lạm phát vẫn là một đe dọa qua giá dầu và lãi suất. Nói tóm lại, nhờ vài viên aspirin, bệnh nhân đã quay lại sở làm việc, nhưng cái ung thư trong gan ruột vẫn chờ ngày giải phẫu.

Đây là chiến thuật mà người phương Tây gọi là “giấu bụi dưới thảm” (swept under the rug) hay “đá cái thùng (rác) xuống cuối đường” (kick the (trash) can down the road). Tạm ổn, nhưng một ngày nào đó, trong nhiệm kỳ mới, có lẽ một người nào khác sẽ phải hốt bụi hay đổ rác.

Ứng dụng cho Việt Nam

Câu hỏi kế tiếp là Mỹ làm được thế thì tại sao ViệtNamkhông áp dụng giải pháp tương tự? Dĩ nhiên, ViệtNamcũng đang áp dụng chính sách này và cũng có cơ may thành công. Tuy nhiên, có 5 sự khác biệt khá sâu rộng giữa hai nền kinh tế.

1. Trước hết, dù chịu nhiều thách thức, đồng đô la vẫn là bản vị chính trong các thanh toán quốc tế. Sự sụt giảm tỷ giá đồng đô la sẽ khiến các dự trữ ngoại hối của Trung Quốc, NhậtBản,Singapore… mất giá trị nhanh chóng. Các nhà cầm quyền nơi đây đã làm đủ cách để giúp Mỹ và giúp chính họ giữ sự bình ổn. Đồng ViệtNamthì ngược lại.

2. Nền kinh tế Mỹ phần lớn vẫn dựa trên vận hành thị trường, với những doanh nghiệp tư nhân năng động, sáng tạo và mạo hiểm. Nhiều nhà sáng lập các doanh nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế là những di dân từ Á Châu, Đông Âu… với mộng ước xây dựng những sự nghiệp lớn lao trên sân chơi lớn nhất toàn cầu. Trong khi đó, đầu tàu của kinh tế Việt vẫn là những doanh nghiệp nhà nước, chưa thoát khỏi sự bảo bọc của đặc quyền, đặc lợi.

3. Doanh nghiệp tư nhân của ViệtNamvẫn chiến đấu bền bỉ trong trận bão hiện nay. Tuy nhiên, đối diện với lãi suất trên 20%, lạm phát thực sự hơn 15% và tỷ giá USD thấp hơn 16% giá trị thực của tiền đồng; các doanh nghiệp này chịu quá nhiều gánh nặng để cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, và ngay cả nội địa so với hàng Trung Quốc. Trong khi đó, doanh nhân Mỹ chỉ chịu lãi suất khoảng 6%, lạm phát 2%; nên sự hồi phục xảy ra nhanh chóng hơn.

4. Thêm vào đó, đầu tư FDI và FII vào Mỹ lại gia tăng trong các khủng hoảng kinh tế toàn cầu vì sự ổn định và minh bạch của cơ chế quản lý. Các suy giảm về FDI và FII cho ViệtNamlà những tín hiệu ngược lại.

5. Trong khủng hoảng tài chính năm 2008, do nợ xấu từ suy sụp của giá bất động sản, các ngân hàng Mỹ đã công khai các số liệu và tình trạng các sản phẩm tài chính để chính phủ Mỹ và các nhà đầu tư có thể đánh giá (stress test) khả năng sinh tồn của mình. Nhiều định chế hàng đầu như Lehman Bros hay Countrywide… phá sản và nhiều ngân hàng hay hãng bảo hiểm siêu cấp phải bán đi phần lớn vốn cho các nhà đầu tư mới, kể cả chính phủ. Trong khi đó, các biện pháp của cơ quan quản lý ở Việt Nam và các nhóm sở hữu ngân hàng vẫn chưa thực sự minh bạch về thông tin, nên không ai bên ngoài có thể tiên đoán bất cứ điều gì về vấn đề hay diễn biến.

Liệu ViệtNamcó thành công (dù tạm thời) như Mỹ trong bài toán kinh tế hiện tại?

Cách đây một năm, tôi lấy tàu hỏa cao tốc mới xây của Trung Quốc đi từ Thượng Hải đến Bắc Kinh. Tôi đùa hỏi ông quản lý đoàn xe là ông chắc không có sự cố gì chứ? Ông bảo anh hãy tin vào công nghệ cấp tiến chất lượng của Trung Quốc đi. Chúng tôi đang chiếm lĩnh vị trí số một về tàu cao tốc trên thế giới. Chỉ 3 tuần sau, đoàn tàu đó bị trật rầy ởWenzhou, khiến hơn 50 người thiệt mạng (con số chính xác vẫn bị giấu). Các vị quản lý có thể đúng đến 80% về xác suất. Nhưng có lẽ tôi sẽ không bao giờ đáp những chuyến tàu cao tốc của Trung Quốc.

TS Alan Phan

 

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.