Ảnh hưởng khủng hoảng tài chính đến Việt Nam: Được và mất

Các chuyên gia kinh tế Việt Nam trả lời bạn đọc về khủng hoảng tài chính Mỹ. Hỏi nhiều và trả lời cụ thể, thiết thực. Mình thích những câu hỏi sau:

Vũ Khánh Bình (khoabui1973@yahoo.com): Do chênh lệch lãi suất tiền gửi USD trên thế giới và Việt Nam, nên có thể sẽ có làn sóng người nước ngoài vay tiền từ Mỹ đem sang Việt Nam gửi tiết kiệm để hưởng chênh lệch lãi suất khoảng 4%/năm. Việt Nam hưởng lợi gì và thiệt hại gì từ việc này? Các ngân hàng 100% vốn nưóc ngoài với lợi thế có lượng USD lãi suất thấp sẽ tác động thế nào tới thị trường tài chính Việt Nam? Áp lực lên tỷ giá VND/USD bị ảnh hưởng ra sao?

Ông Huỳnh Thế Du: Thực ra không phải đến giờ này mà trong một thời gian qua khe hở giữa lãi suất tiền đồng so với ngoại tệ trong nước, ngoại tệ trong nước so với ngoại tệ nước ngoài đã xảy ra, nhưng tôi cho rằng dòng vốn chảy vào Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất không nhiều, ngay cả ở những thời điểm kinh tế Việt Nam rất ổn định.

Điều này không xảy ra là do cũng giống như các nước đang phát triển hay thị trường mới nổi khác, các nhà đầu tư lo ngại những rủi ro có thể xảy ra đối với nền kinh tế.

Thứ nhất, ngay cả đối với các nhà đầu tư trong nước, cho dù tỷ giá giữa VND và USD đã được giữ ổn định trong nhiều năm nhưng dường như cũng chưa đủ thuyết phục để những người có ngoại tệ chuyển sang tiền đồng vì họ lo ngại khả năng đồng tiền bị mất giá. Thực ra tâm lý này xảy ra đối với hầu hết các nước chứ không riêng gì Việt Nam.

Thứ hai, lãi suất ở Mỹ chỉ vài ba phần trăm trong khi lãi suất USD ở Việt Nam gấp vài ba lần nhưng các nhà đầu tư bên ngoài cũng không đổ nhiều tiền vào Việt Nam vì kinh nghiệm của họ cho thấy khi có vấn đề gì xảy ra các nước đang phát triển thường áp dụng những biện pháp hành chính mạnh làm họ không được rút tiền ra nên họ lo ngại.

Với những gì đang xảy ra, theo dự báo dòng vốn chảy vào các nước đang phát triển, các thị trường đang lên mà trong đó có Việt Nam sẽ giảm do khẩu vị về rủi ro của các nhà đầu tư đã giảm đi rất nhiều và họ có xu hướng đầu tư vào những loại tài sản có tính an toàn cao hơn thay vì phiêu lưu mạo hiểm như trước đây.

Do vậy, ở vấn đề này, tôi cảm thấy lo ngại sự giảm sút của dòng vốn chảy vào nhiều hơn. Nếu điều này xảy ra cộng với chính sách tỷ giá gần như cố định hiện này vẫn được duy trì thì sức ép đối với đồng tiền trong nước sẽ gia tăng.

Le Thanh: Xin ông Huỳnh Thế Du cho biết Mỹ và Nhật lấy tiền đâu để có thể “bơm tiền không giới hạn cứu các ngân hàng” của họ?

Ông Huỳnh Thế Du: Có một kênh không giới hạn, đó là in tiền. Tuy nhiên, trong tình huống này họ không làm như vậy vì như thế sẽ làm cho tình trạng lạm phát gia tăng rất khủng khiếp và ảnh hưởng đến tín nhiệm quốc gia (làm như vậy chẳng ai còn dám mua trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ nữa).

Ở đây với mỗi kế hoạch người ta đều tính toán cẩn thận.

Ví dụ như gói ngân sách 700 tỷ Đô la ở Mỹ, Chính phủ phải vất vả lắm mới thuyết phục được Quốc hội thông qua. Họ tính toán từng đồng lấy nguồn ở đâu và trong thời gian tới sẽ thâm hụt ngân sách bao nhiêu chứ họ không in tiền như Zimbawe đã làm.

Thực ra, do ngân hàng trung ương của các nước này có tính độc lập rất cao nên họ có thể can thiệp bằng cách tung tiền ra trong những thời điểm thị trường thiếu thanh khoản sau đó sẽ thu về vào những thời điểm cần thiết.

Phan Duy Tuấn (duytuanp@yahoo.com): Có thể nói, khủng tài chính toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ các khoản cho vay thế chấp bất động sản thứ cấp của các tổ chức tài chính Mỹ, trong đó mấu chốt của vấn đề là việc chứng khoán hóa các khoản cho vay này để tạo ra sản phẩm mới là các chứng khoán bất động sản (Mortgage Backed Securities – MBS) và mua bán, trao đổi chúng trên thị trường tài chính toàn cầu. Đến khi thị trường bất động sản xuống dốc, kéo theo các khoản nợ xấu gia tăng, và khi tỉ lệ nợ xấu vượt quá giới hạn chịu đựng, các tổ chức tài chính sẽ lâm vào tình trạng phá sản như chúng ta đã chứng kiến trong những ngày vừa qua. Thật may đối với Việt Nam khi chúng ta chưa có loại sản phẩm tài chính kiểu này nên không chịu tác động dây chuyền khi có sự đổ vỡ của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, theo thiển nghĩ, MBS cũng là một phương thức rất tốt để tái huy động vốn phục vụ nhu cầu của thị trường, nhất là tình trạng nhà ở còn thiếu thốn như ở Việt Nam ta. Vậy theo ý kiến các chuyên gia, trong tương lai chúng ta có nên khuyến khích phát triển loại hình sản phẩm tài chính nói trên để đáp ứng yêu cầu của xã hội hay không?

Ông Mạc Quang Huy: Câu hỏi của bạn rất thú vị. Như đã trả lời trong câu hỏi trước, tôi đồng tình với quan điểm là chúng ta nên phát triển nghiệp vụ chứng khoán hóa tại Việt Nam. Vấn đề quan trọng là phát triển thế nào, lộ trình ra sao, và cơ chế giám sát thế nào là điều cần bàn. Việc phát triển thị trường chứng khoán hóa sẽ giảm gánh nặng cho thị trường tín dụng truyền thống trong khi chúng ta chưa có một thị trường tài chính nhà ở (housing finance) theo đúng nghĩa của nó…

Lê Thị Thanh Huyền: Đối với giới đầu tư tài chính Việt Nam trong lĩnh vực bất động sản thì cuộc khủng hoảng chịu tác động như thế nào? Theo một số nhận định thì khi giá hàng hóa giảm, giá nhà sẽ giảm, tỷ lệ nợ xấu sẽ gia tăng. Xin ông cho biết nhận định về ý kiến trên? Các ngân hàng thương mại sẽ đối phó với việc này như thế nào?

Ông Bùi Kiến Thành: Trong năm vừa qua, số cho vay bất động sản của các ngân hàng rất lớn. Ngân hàng nhà nước báo cáo dư nợ cho vay trực tiếp là 115 ngàn tỷ, tổng số cho vay bất động sản kể cả cho vay thế chấp khoảng trên 600 ngàn tỷ đồng…

Xem toàn bộ nội dung ở đây:

http://vneconomy.vn/20081016011018103P0C6/anh-huong-khung-hoang-tai-chinh-den-viet-nam-duoc-va-mat.htm

Có mộ phản hồi

  1. eeyhudtghnh

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.